01
Th4

Chung cư Việt – ảnh hưởng Pháp và một tiến trình lịch sử .

Tran Duy Anh Vu – AAVF
1 . Nhà ở tại Việt Nam – một nhu cầu thiết yếu
Nhà ở vẫn luôn là một vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tiến trình phát triển của lịch sử. Việt Nam, đất nước đã trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm với nhiều biến đổi xã hội , tất cả những khung thời gian lịch sử cũng như những biến đổi xã hội đó phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển của kiến trúc nhà ở – chung cư.
Dân số Việt Nam hiện đã đạt tới con số 90 triệu, riêng ở Hà nội và TP Hồ Chí Minh đã chiếm hơn 15 triệu dân, với một mật độ dân số trên 3700 người /km2 ở TP HCM và 2100 người /km2 tại Hà Nội, ở rất nhiều khu vực trung tâm mật độ có thể vượt qua ngưỡng 20 000 người / km2. Điều kiện vệ sinh và chất lượng nhà ở thường thấp. Việc nâng cao chất lượng nhà ở luôn là một mục tiêu lớn trong xã hội.
Câu hỏi về chất lượng và nhu cầu nhà ở đã được đặt ra từ khá lâu trong tiến trình lịch sử, liệu những phát triển lịch sử đó có còn thực tiễn và làm cơ sở để tìm ra những câu trả lời thích hợp? Liệu ảnh hưởng của lịch sử còn thích hợp với các quy chuẩn phát triển nhà ở giai đoạn hiện đại ?
2. Ảnh hưởng lịch sử – ba giai đoạn khác biệt
2.1. Trước năm 1945 – ảnh hưởng chính quyền thuộc địa Pháp và nền tảng cho việc phát triển nhà ở xã hội
Nhà giá rẻ, nhà xã hội, nhà cho người nghèo đã được quan tâm đến từ những năm 1920 – 1950 trong giai đoạn thuộc địa Pháp, vào khoảng thời gian này chính quyền đương thời đã đưa ra những điều luật – nghị định đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng nhà ở giai đoạn này . Điển hình là nghị định năm 1920 về việc hạn chế giá nhà cho thuê, nghị định năm 1928 về quyền sở hữu những chung cư giá rẻ. Văn phòng chính phủ về nhà giá rẻ được thành lập trong thời gian này nhằm quản lý và hạn chế quyền tư hữu, hạn chế vấn nạn đầu cơ trong xã hội. Dù những điều luật này vẫn chưa mang lại những hiệu quả thiết thực và không được tồn tại lâu dài, thậm chí mang lại những phản ứng trái chiều từ dư luận nhưng đã phần nào đánh dấu sự quan tâm của nhà nước đến nhu cầu nhà ở .
Từ năm 1929, tại Hà Nội đã xuất hiện những đề án nghiên cứu nhằm tìm giải pháp về nhu cầu và chất lượng nhà ở. Từ những năm 1930 – 1940 mật độ dân số trung tâm Hà Nôi đã quá cao và chất lượng môi trường đã không được đảm bảo. Còn ở Sài Gòn trong khoảng thời gian này 2/3 dân số sống trong những khu ổ chuột. Dù nghị định năm 1930 về giải pháp hạn chế số người ở tối đa là 2 người trên 30 m2 nhưng vẫn không giải quyết được thực trạng xã hội
. Nhiều giải pháp đã được đưa ra. Ở Hà Nội, những dự án nhà cho thuê giá hợp lý đã bắt đầu được chấp nhận, năm 1937 chính quyền đương thời đã nhượng bộ cho những dự án nhà ở giá rẻ trong trung tâm, mặc cho điều này đã làm thay đổi bộ mặt của thành phố …
Việc xuất hiện của tổ chức “ánh sáng” (1933) là một điểm nhấn trong thời gian này, tổ chức được lập ra với mục đích chống lại những nhà ở chất lượng thấp, ô nhiễm, xúc tiến và hướng dẫn việc xây dựng những nhà ở hiện đại. Tại hà Nội trong giai đoạn này nhiều dự án chung cư cũng được giao cho các kiến trúc sư Việt Nam như Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Cao Luyện, , Nguyễn Gia Đức .
Tại Sài Gòn nhà ở giá rẻ không được chú ý nhiều bằng việc xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp, trong trung tâm gần 1/3 dân số sống trong những khu ổ chuột, chất lượng kém. Một giải pháp được đưa ra trong giai đoạn này là việc xây dựng lại những tổ hợp nhà ở cho người thu nhập thấp nằm ngay trong thành phố, dù những dự án nhanh chóng bị gián đoạn vào thời điểm 1945 nó cũng thể hiện một phần nào nhu cầu đô thị hoá một cách nhanh chóng .
Hình thái kiến trúc trong giai đoạn này thiên về xu hướng ” kiến trúc thuộc địa” các toà nhà thường từ 1-2-3 tầng , những tổ hợp nhà dài với sân vườn ở giữa, không có nhiều chi tiết trang trí nhưng cũng thể hiện sự tìm tòi nhằm giao hoà giữa kiến trúc phương tây và kiến trúc truyền thống của Việt nam. Chỉ còn rất ít công trình còn tồn tại ở giai đoạn này .
Nhà ở xã hội Yên Định , Hải Hậu
Nhà ở xã hội Yên Định , Hải Hậu
2.2 . 1945 – 1990 phát triển đô thị và chế độ bao cấp nhà ở
Sau chiến tranh thế giới thứ hai nhu cầu nhà ở tại Việt Nam lại càng trở thành một vấn đề đáng quan tâm, tại Hà Nội ước tính có khoảng 2800 toà nhà bị phá huỷ. Từ năm 1950 nhu cầu về nhà ở xã hội trở nên thực sự cần thiết ở Việt Nam, để giải quyết những yêu cầu này những khu đô thị dần được hình thành để giải toả nhu cầu ngày càng thiết yếu. Những năm 1950 có thể nói là giai đoạn tiền đề của sự phát triển nhà ở xã hội.
Quá trình xây dựng bị gián đoạn một phần vào những năm 75 trong thời kì thống nhất đất nước và tái tạo lại nền kinh tế. Giai đoạn này cho tới những năm 1989, nhà nước thực hiện chính sách bao cấp về nhà ở, cùng với quỹ nhà tiếp quản từ chế độ cũ, nhà nước đã đầu tư xây dựng khoảng hơn 6 triệu m2 nhà ở chung cư cho 500 nghìn người sinh sống.
Các công trình trong giai đoạn này thường cao từ 2-5 tầng với kết cấu tường gạch chịu lực hoặc bê tông lắp ghép , ngoài ra còn có một số ít công trình đạt tới chiều cao 6 tầng vào khoảng những năm 1980 – 1990 được sử dụng kết cấu bê tông cốt thép.
Những chung cư giai đoạn này hiện tại đang trong tình trạng xuống cấp khá nghiêm trọng, mặt công năng của các chung cư cũng chưa được chú trọng hợp lý, hệ thống nước thải, thoát hiểm … vẫn chưa có những tiêu chuẩn thống nhất.
Chung cư Hà Nội
Chung cư Hà Nội
2.3. 1990-2015 Phân hoá hình thức sử dụng nhà ở
Sau năm 1990 trong giai đoạn mở cửa, hoà với nhu cầu xã hội, các biến thể khác của loại hình nhà chung cư dần được người dân Việt Nam tiếp nhận.
Giai đoạn 2000 – 2015 đánh dấu sự đầu tư ồ ạt của tư nhân vào lĩnh vực nhà ở. Việc phân hoá các loại hình chung cư càng trở nên rõ rệt, từ những căn hộ dành cho người nghèo, đến những căn hộ giá rẻ, đã xuất hiện những chung cư dành cho tầng lớp chung lưu cũng như những chung cư cao cấp song song với những chung cư được đầu tư bởi nhà nước kết hợp với tư nhân dành cho cán bộ công nhân viên…
Ấn tượng về văn hoá xây dựng chung cư Việt Nam trong giai đoạn hiện đại là được xây dựng cao tầng nhằm mục đích kinh tế, chính điều này đã phần nào đó đánh mất đi giá trị sử dụng và chất lượng sống cần thiết. Hình ảnh chung cư tại Viêt Nam đang phần nào phá đi quy luật tự nhiên, mang lại cảm giác đối lập giữa khía cạnh môi trường và kinh tế.
3. Những tiêu chuẩn nào cho tương lai ?
Những hành lang dài, những phòng ngủ không ánh sáng, những căn chung cư chỉ có một hướng nhìn ra ngoài trời, không balcon…
Những chung cư cũ xuống cấp, những công trình cổ không được bảo tồn, những sản phẩm đó đang được xây dựng ồ ạt và thiếu đi sự hoàn thiện về mặt công năng thẩm mỹ. Ngoài ra các chỉ số an toàn, mỹ quan tương tác với môi trường xung quanh không được chú trọng. Một số lượng lớn chung cư Việt giai đoạn hiện đại chưa thể hiện được giá trị bản sắc truyền thống cần thiết … Hiện tượng xây dựng ồ ạt có thể nói phần nào đang phá đi mỹ quan chung của cả nước. Việc xây dựng cần dựa trên những tiêu chuẩn nào ? Việc bảo tồn và trùng tu sẽ ra sao ?
Những tiêu chuẩn cần được chú trọng theo tôi đó là sự kết hợp giữa môi trường – công nghệ – thiết kế bền vững – kinh tế – lịch sử. Việc thiết kế cần chú trọng đến vị trí không gian, giá trị xã hội cũng như tính năng tổ chức, quy chuẩn. Bên cạnh đó giá trị lịch sử dân tộc cũng cần được gìn giữ và bảo tồn .
Tất cả những vấn đề đó phải đi cùng với việc định hình quy hoạch, nhằm tạo nên những tổ hợp mỹ quan đô thị, phù hợp với truyền thống kiến trúc dân tộc. Đừng để giá trị kinh tế làm nhạt đi giá trị bền vững lâu dài lịch sử của những công trình nhà ở, chung cư. Trên tất cả nó nằm ở cái tâm của nhà quản lý và người thiết kế !
Theo AAVF,